Luật thừa kế tài sản

luật thừa kế tài sản

Di chúc hiểu theo cách hiểu thông thường là giấy tờ ghi nhận việc để lại tài sản của người đã mất cho người còn sống. Dưới góc độ pháp luật thì di chúc một giấy tờ hợp pháp thể hiện nguyện vọng, mong muốn của một người về cách phân chia tài sản mình có được sau khi chết.

Tuy nhiên không phải trường hợp nào khi người đã mất chết đi cũng để lại di chúc, vậy đối với những trường hợp như vậy thì sẽ giải quyết ra sao?

Theo Bộ luật Dân sự 2015 khi một người mất đi mà không để lại di chúc thì việc phân chia tài sản trong trường hợp này sẽ tuân theo quy định của pháp luật để giải quyết. Việc luật thừa kế tài sản sẽ được áp dụng trong những trường hợp sau đây.

Thừa kế tài sản không có di chúc

Việc thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc được coi là không có di chúc:

Đây là những trường hợp mà người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng đã hủy di chúc như đốt, xé hoặc tuyên bố hủy bỏ di chúc đã lập.

Cũng được coi là không có di chúc trong những trường hợp người chết có để lại di chúc nhưng khi có tranh chấp về thừa kế xảy ra thì di chúc đó đã bị thất lạc hoặc đã bị hư hại hoàn toàn đến mức không thể chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc.

Ngoài ra, nếu bản di chúc được viết bằng kí hiệu hoặc bằng ngôn từ khó hiểu làm cho tất cả người thừa kế có cách hiểu không đồng nhất về toàn bộ nội dung của bản di chúc đó thì cũng được coi là không có di chúc.

Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người chết để lại sẽ được phân chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật.

Chia thừa kế theo pháp luật khi di chúc không hợp pháp

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp:

Di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của một giao dịch có hiệu lực và các điều kiện đã được Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại Điều 649.

Di chúc bị coi là không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật, do vậy di sản liên quan đến di chúc đó sẽ được giải quyết theo pháp luật.

Tuy nhiên, một di chúc bất hợp pháp có thể không có hiệu lực pháp luật ở nhiều mức độ khác nhau.

Di chúc bất hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng có thể chỉ vô hiệu một phần nên khi giải quyết một tranh chấp về thừa kế có liên quan đến di chúc phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, vào các điều kiện mà di chúc đã vi phạm để xác định mức độ vô hiệu của di chúc.

Vậy di chúc như thế nào thì bị coi là vô hiệu? Một di chúc bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó do người không còn minh mẫn, sáng suốt lập ra hoặc di chúc đó không phải là ý chí tự nguyên đích thực của người lập di chúc, do bị người khác cưỡng ép, ngăn cản hoặc lừa dối.

Di chúc cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu do người dưới mười lăm tuổi lập ra hoặc do người đủ mười lăm tuổi lập ra nhưng không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật.

Ngoài ra, một di chúc dù không vi phạm các điều kiện trên vẫn bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu toàn bộ nội dung của di chúc đó trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Khi xác định di chúc không có hiệu lực toàn bộ thì vụ thừa kế sẽ hoàn toàn được giải quyết theo pháp luật, nghĩa là toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của họ.

Trong trường hợp không có di chúc hay có di chúc nhưng di chúc bị vô hiệu thì việc phân chia di sản theo pháp luật sẽ được diễn ra theo trình tự là sự dịch chuyển di sản thừa kế của người chết để lại theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế theo quy định của pháp luật.

Nghĩa là theo trình tự này thì ai được hưởng di sản của người chết để lại, hưởng thế nào, hưởng bao nhiêu, hoàn toàn do pháp luật xác định.

Tuy nhiên khi xác định phạm vi những người được hưởng di sản của người chết để lại ta thường căn cứ trên quan hệ thân thích của người đã chết với những người còn sống, nhưng trong những người thân thích với người chết mức độ gần gũi lại là khác nhau.

Theo trình tự hưởng di sản thừa kế thì người nào có mức độ gần gũi nhất với người chết sẽ được hưởng di sản mà người đó để lại, nhiều người có cùng một mức độ gần gũi với người chết cũng sẽ được hưởng di sản của người đó.

Khi không có người gần gũi nhất thì những người có mức độ gần gũi tiếp theo sẽ được hưởng di sản của người chết để lại. Như vậy, không phải tất cả những người trong diện những người thừa kế theo pháp luật đều được hưởng thừa kế cùng một lúc.

Để những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật hưởng di sản theo trình tự trước, sau căn cứ vào mức độ gần gũi giữa họ với người chết, pháp luật về thừa kế đã sắp xếp những người đó theo từng nhóm khác nhau.

Mỗi một nhóm đó được gọi là một hàng thừa kế theo pháp luật. Pháp luật về thừa kế hiện nay đã có quy định cụ thể về những người thuộc diện thừa kế, được quyền hưởng di sản thừa kế và phân chia theo hàng thừa kế tại Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật Bộ luật Dân sự 2015.

Như vậy, sau khi đã xác định được những người thuộc vào diện được hưởng thừa kế và ở hàng thừa kế nào thì việc phân chia di sản sẽ dựa trên các quy định pháp luật về phân chia di sản để tiến hành phân chia di sản cho những người thuộc diện thừa kế. Khi tiến hành phân chia di sản theo pháp luật phải tuân theo trình tự và các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, chia trước và chia hết cho những người thừa kế ở hàng thừa kế trước: căn cứ của việc phân chia những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật thành các hàng thừa kế khác nhau (từ hàng thừa kế thứ nhất đến hàng thừa kế thứ ba) là mức độ gần gũi, thân thuộc giữa họ với người để lại di sản đồng thời với mục đích là người nào có mức độ gần gũi nhất sẽ được hưởng di sản của người dể lại di sản, những người có cùng mức độ gần gũi sẽ cùng được sẽ cùng được hưởng di sản của người chết để lại.

Vì vậy, trước hết di sản phải được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất. Nếu không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất.

Nếu không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất vì đã chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thừa kế thế vị hoặc còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đều không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật hoặc đều bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản, hay do họ từ chối nhận di sản thì di sản mới được chia cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai.

Nếu cũng không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai vì đã chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thừa kế thế vị hoặc còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đều không có quyền hưởng di sản hoặc đều từ chối nhận hưởng di sản thì mới được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ ba.

Thứ hai, di sản được chia đều cho những người cùng hưởng thừa kế: theo nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau quy định tại Điều 651 Khoản 2 Bộ luật Dân sự 2015 nên nếu có người thừa kế cùng hàng hưởng di sản đã thành thai nhưng chưa sinh ra vào thời điểm phân chia di sản thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác cùng hàng được hưởng để khi người thừa kế đó sinh ra và còn sống sẽ được hưởng.

Trong trường hợp người thừa kế đó chết trước khi sinh ra hoặc sinh ra những chưa được một ngày đã chết thì phần di sản đã dành ra đó được chia tiếp cho những người thừa kế.

Nếu sau một ngày trở lên kể từ khi sinh ra mà người thừa kế đó chết thì phần di sản mà người đó được hưởng sẽ thuộc về người thừa kế tiếp theo pháp luật của người đó.

luật thừa kế tài sản
luật thừa kế tài sản

Tư vấn pháp luật về thừa kế và chia di sản thừa kế

Kính gửi: Luật sư! Vợ chồng tôi được phân đất làm nhà ở từ năm 1992, năm 1998 chồng tôi bị tai nạn qua đời không để lại di chúc. Năm 2002 làm sổ đỏ chủ sở hữu là tên tôi, còn tên chồng tôi thì ghi tên và ghi đã chết trong dấu. Ba mẹ con tôi vẫn sống tại phần đất và nhà ở từ đó đến nay.

Hiện tại tôi muốn chuyển tặng quyền thừa kế con con trai tôi thì tôi phải chuẩn bị những giấy tờ gì để con trai tôi có thể là chủ sở hữu của nhà và đất trên.

Luật sư tư vấn:

Mảnh đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bạn và chồng mình thì về mặt pháp luật nó được coi là tài sản chung của vợ chồng, khi chồng bạn qua đời thì phần di sản mà anh ấy để lại se là 1/2 mảnh đất.

Trong trường hợp này chồng bạn không lập di chúc mà đột ngột qua đời thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015:

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Không có di chúc;

Di sản của chồng bạn sẽ dược chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất

Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Trong trường hợp gia đình bạn đã thống nhất tặng toàn bộ số tài sản này cho con trai chị thì chị có thể làm 1 biên bản họp, thỏa thuận giữa những người thừa kế, cụ thể:

– Theo quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2015:

Họp mặt những người thừa kế:

Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

Cách thức phân chia di sản.

Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Như vậy, văn bản thỏa thuận việc phân chia di sản chỉ được tiến hành khi có mặt của tất cả những người thừa kế.

– Hơn nữa, căn cứ theo Điều 57 Luật Công chứng năm 2014:

Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản

Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.

Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.

Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.

Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng.

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản”.

Vậy sau khi hoàn thành các thủ tục nêu trên thì bạn mới có thể làm sổ đỏ đứng tên con bạn được.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về luật thừa kế tài sản. Nếu các bạn đang cần tìm một công ty tư vấn luật uy tín, nhanh chóng và hiệu quả, vui lòng liên hệ với LUẬT TRẦN VÀ LIÊN DANH! để được tư vấn một cách nhanh chóng và tốt nhất!

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0969 078 234
Tư Vấn Online
Gọi: 0969 078 234