Hung khí nguy hiểm

Hung khí nguy hiểm

Vũ khí (hung khí) nguy hiểm là gì ? Mang theo con, dao, kiếm, gậy có hợp pháp hay không ? Mức xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng vũ khí, hung khí là gì ? … và một số vướng mắc khác liên quan sẽ được luật sư tư vấn cụ thể:

1. Khái niệm về hung khí nguy hiểm ?

Thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy, có văn bản hướng dẫn đã lệch hướng so với tinh thần quy định của luật. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12.5.2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) trong số đó.
Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì, khi một người dùng hung khí nguy hiểm cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật dưới 11% cũng đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nếu tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% là phạm tội thuộc khoản 2 (có mức hình phạt từ hai năm đến bảy năm). Bởi vì, việc dùng hung khí nguy hiểm sẽ làm tăng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội nên đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hiểu thế nào là hung khí nguy hiểm thì thực tiễn xét xử thời gian qua còn có sự nhận thức khác nhau. Không chỉ nhận thức của những người tiến hành tố tụng mà ngay cả hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề này cũng chứa đựng những điều bất ổn về mặt lý luận cũng như đối chiếu với tinh thần của pháp luật thực định.
Tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17.4.2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 của Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP nêu trên đã hướng dẫn: “2.1. Vũ khí là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12.8.1996 của Chính phủ). 2.2. Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công. a. Về công cụ, dụng cụ: Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn… b. Về vật mà người mà người phạm tội chế tạo ra: Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ… c. Về vật có sẵn trong tự nhiên: Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…”.

Như vậy có thể thấy, hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP viện dẫn ở trên đã đồng nhất khái niệm “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS (tội cố ý gây thương tích) với khái niệm “sử dụng vũ khí, phương tiện khác” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS (tội cướp tài sản). Cách hướng dẫn trên không phù hợp. Lý do, tội cố ý gây thương tích và tội cướp tài sản hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau được thể hiện ở khách thể xâm phạm, hành vi và hậu quả của tội phạm không giống nhau. Tội cướp tài sản là “hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc… làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản”. Đây là tội có cấu thành hình thức, chỉ cần thực hiện hành vi mà chưa cần hậu quả xẩy ra thì tội phạm đã hoàn thành. Do đó, việc người phạm tội dùng bất kỳ loại vũ khí, phương tiện nào để tấn công người bị hại đều làm tăng tính chất nguy hiểm của hành vi. Mặt khác, tội cướp tài sản xâm phạm khách thể được bảo vệ đó là quyền sở hữu, do đó việc dùng vũ khí, phương tiện khác để tấn công còn có nguy cơ cao trong việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe (một khách thể khác với khách thể của tội cướp tài sản).

Tội cố ý gây thương tích là hành vi dùng vũ lực tác động vào cơ thể của người bị hại gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe. Đây là tội có cấu thành vật chất, hành vi phạm tội phải gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tội phạm mới hoàn thành. Tỷ lệ thương tích vừa là yếu tố định tội (khung cơ bản) vừa là yếu tố định khung tăng nặng. Tỷ lệ thương tích gây ra càng cao thì khung hình phạt quy định cũng như hình phạt được áp dụng càng cao (tỷ lệ thuận). Nếu loại trừ yếu tố chủ quan của người phạm tội thì việc sử dụng vũ khí, phương tiện khác có tính năng càng cao (độ sắc, nhọn, cứng, nặng,…) thì thương tích gây ra càng cao. Khác với tội cướp tài sản, hậu quả của tội cố ý gây thương tích là thương tích đã gây ra, do đó việc sử dụng công cụ, phương tiện để gây ra thương tích là đặc điểm riêng của tội này. Khi người phạm tội sử dụng vũ khí, phương tiện thực hiện hành vi gây thương tích thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo mức độ nặng nhẹ tương ứng với thương tích gây ra cho nạn nhân. Thực tế cho thấy, để gây ra thương tích cho người khác không một ai lựa chọn sử dụng các vật nhẹ, mềm để làm công cụ, phương tiện phạm tội. Hung khí nguy hiểm có thể là một trong những loại vũ khí hoặc phương tiện khác, tuy nhiên không phải mọi loại vũ khí và phương tiện khác đều là hung khí nguy hiểm. Cần phải hiểu hung khí nguy hiểm trong tội cố ý gây thương tích là những loại công cụ, phương tiện mà khi người phạm tội sử dụng ngoài việc gây ra thương tích còn có nguy cơ gây thiệt hại cho tính mạng của nạn nhân (hậu quả khác với hậu quả của tội cố ý gây thương tích). Chẳng hạn như dùng dao nhọn đâm vào ngực, vào bụng nạn nhân là thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm; còn trường hợp dùng gạch, đá, gậy cứng đánh vào tay, vào chân của người bị hại thì không thể coi là dùng hung khí nguy hiểm. Do đó, không thể đồng nhất khái niệm dùng hung khí nguy hiểm trong tội cố ý gây thương tích với khái niệm sử dụng vũ khí, phương tiện khác trong tội cướp tài sản.

Nếu những vật dụng dưới đây được dùng để gây thương tích cho người khác, thì:

Chai bia có phải hung khí nguy hiểm?

Chai bia là phương tiện nguy hiểm, vì khi đập vỡ nó tạo thành những mảnh sắc, nhọn, có thể gây ra những vết thương nguy hiểm.

=> Nó là hung khi nguy hiểm

Gậy có phải hung khí nguy hiểm?

Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP đã liệt kê gậy là phương tiện nguy hiểm. Điều này cũng dễ hiểu vì dùng gậy có thể gây ra những vết thương nghiêm trọng khi đánh vào những vị trí trọng yếu trên cơ thể con người.

=> Nó là hung khi nguy hiểm

 Mũ bảo hiểm có phải là hung khí nguy hiểm?

Các loại mũ bảo hiểm đạt chuẩn (không phải các loại mũ thời trang mỏng, nhẹ) là phương tiện nguy hiểm vì nó có thể gây nguy hiểm, thương tích nặng cho con người

=> Nó là hung khí nguy hiểm

Điếu cày có phải là hung khí nguy hiểm?

Điếu cày là phương tiện nguy hiểm. Với những loại điếu cày bằng gỗ, sắt thì nó có thể được sử dụng như gậy

=> Nó là hung khí nguy hiểm.

Hiện nay, Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BVHTTDL-BCA tại Khoản 3 Điều 3 cũng không quy định côn nhị khúc, côn tam khúc và trường côn là vũ khí thô sơ dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao,….

Như vậy, các loại côn mà bạn nói không được liệt kê trong khái niệm về vũ khí thô sơ, nên nó không được coi là vũ khí thô sơ theo quy định của pháp luật, bạn có thể an tâm để chúng trong cốp xe khi đi tập võ.

Hung khí nguy hiểm
Hung khí nguy hiểm

2. Tư vấn pháp lý

Dùng vũ khí đập vào đầu người khác gây thường tích có được xem là dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại tội cố ý gây thương tích hay không?

Người gửi: Trần Toàn

Dùng vũ khí đập vào đầu người khác gây thường tích có được xem là dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại tội cố ý gây thương tích hay không?

Câu trả lời

Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999, Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Để xem xét hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác gây thương tích có phải là dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại tội cố ý gây thương tích hay không, cần phải xem xét hành vi đó có đủ các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích hay không.
Thứ nhất, mặt khách quan
– Hành vi khách quan: Hành vi khách quan trong trường hợp này là hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác.
– Công cụ, phương tiện sử dụng: Công cụ, phương tiện trong câu hỏi chỉ nêu là vũ khí chứ chưa xác định rõ đó là loại nào.
+ Đối với hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/1/2018, áp dụng BLHS năm 1999. Điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999 chỉ quy định: “Dùng hung khí nguy hiểm”. Theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hung khí nguy hiểm là vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm có khả năng gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.
+ Đối với hành vi phạm tội xảy ra từ ngày 01/1/2018, áp dụng BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm”. Vũ khí và hung khí nguy hiểm được quy định tách riêng. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào hướng dẫn về “hung khí nguy hiểm” theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nếu người phạm tội sử dụng các công cụ, phương tiện có tính nguy hiểm cao thì phần nào có thể xác định người phạm tội mong muốn cho nạn nhân chết. Ngược lại, nếu người phạm tội chỉ lựa chọn loại công cụ, phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng thì phần nào không mong muốn nạn nhân chết. Vì vậy, dựa vào việc người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay chỉ gây thương tích.
– Vị trí trên cơ thể bị thương tích: Vùng đầu bị tấn công được xem là bộ phận xung yếu trên cơ thể.
– Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Để xác định một hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hay giết người, còn dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh không?
– Hậu quả: Câu hỏi chưa nêu rõ hậu quả của hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác. Nếu là hành vi cố ý gây thương tích thì tỷ lệ thương tật từ 11 % trở lên hoặc dưới 11% nhưng dùng hung khí nguy hiểm, trong đó có vũ khí (Điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999); dưới 11% nhưng dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm (Điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Thứ hai, chủ thể: Câu hỏi chưa nêu rõ người thực hiện hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác là ai. Chủ thể của tội cố ý gây thương tích là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Thứ ba, khách thể: Là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người.
Thứ tư, mặt chủ quan: Câu hỏi chưa nêu rõ các tình tiết của sự việc nên chưa thể xác định được ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác như thế nào. Đối với tội cố ý gây thương tích, phải có lỗi cố ý trực tiếp (Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hại cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hành vi đó sẽ xảy ra) hoặc lỗi cố ý gián tiếp (Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiềm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn những vẫn có ý thức để mặc nó xảy ra).
Như vậy, để xác định hành vi dùng vũ khí đập vào đầu người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích dùng hung khí nguy hiểm hay không cần xem xét nhiều yếu tố cụ thể như đã phân tích ở trên. Nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi trên có thể bị xử phạt hành chính theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình về xâm hại đến sức khỏe của người khác với mức phạt tiền từ 2 000 000 đồng đến 3 000 000 đồng.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0969 078 234
Tư Vấn Online
Gọi: 0969 078 234