Hủy hoại tài sản

hủy hoại tài sản

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản diễn biến ngày một tăng, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chung và kéo theo nhiều hệ lụy của toàn xã hội. Bài viết xoay quanh vấn đề về huỷ hoại tài sản.

Khái niệm hủy hoại tài sản

Hủy hoại tài sản được hiểu là hành vi làm cho tài sản bị hư hại đến mức mất hẳn giá trị hoặc giá trị sử dụng và không thể khôi phục lại được hoặc bị tiêu huỷ hoàn toàn.

Làm hư hỏng tài sản được hiểu là hành vi làm cho tài sản bị mất một phần hoặc giảm giá trị, giá trị sử dụng ở mức độ có thể khôi phục lại được.

Cơ sở pháp lý của tội phá hoại tài sản người khác

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là “Bộ luật Hình sự”) như sau:

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Các yếu tố cấu thành Tội huỷ hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 

Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

  • Về hành vi. Có một trong các hành vi sau đây:

Có hành vi làm cho tài sản của người khác bị hư hỏng đến mức mất hẳn giá trị hoặc giá trị sử dụng hoặc bị tiêu huỷ hoàn toàn (Ví dụ: Đốt nhà của người khác làm nhà bị cháy rụi hoàn toàn).

Hành vi nói trên được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.

Hành động: được thể hiện qua việc chủ động đốt, phá, cài thuốc bổ… làm cho cho tài sản bị hư hại hoặc tiêu huỷ.

Hành vi hành động: được thể hiện qua việc bỏ mặc cho tài sản rơi vào tình trạng bị hư hại hoặc bị tiêu huỷ (chẳng hạn lái xe đã bỏ xe nhưng không tắt máy để cho xe tự vận hành lao xuống vực trong tình trạng không người lái).

Lưu ý: Nói chung mặt khách quan của hai tội nêu trên có điểm cơ bản giống nhau về hành vi phạm tội và chỉ khác nhau ở mức độ thiệt hại gây ra của hành vi trái pháp luật mà thôi. Thiệt hại là cơ sở để xác định tội danh, chẳng hạn cùng một hành vi phạm tội như nhay nhưng nếu tài sản chỉ bị hư hại một phần thì cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản nhưng nếu bị tiêu huỷ hoàn toàn thì cấu thành tội huỷ hoại tài sản.

  • Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây:

Giá trị tài sản bị thiệt hại (mức chung cho hai tội phạm nêu trên) phải từ hai triệu đồng trở lên.

Nếu thiệt hại dưới 2.000.000 đồng thì phải thuộc một trong các trường hợp sau:

Đã bị xử phạt hành chónh về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà con vi phạm.

Tuy nhiên cần lưu ý: Phải thuộc trường hợp chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính quy định tại Điều 71 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;

Gây ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toà xã hội;

Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ (Ví dụ: Gia đình bị hại chỉ có một chiếc xe gắn máy duy nhất và dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho gia đình);

Tài sản là di vật, cổ vật (tham khảo Điều 173).

Trong thực tiễn nhiều trường hợp khi bị tấn công gây thiệt hại tài sản cho người khác mà người bị thiệt hại có nhiều tàn sản bị gây thiệt hại nhưng chưa bị hư hỏng, có tài sản thì bị tiêu huỷ hoàn toàn, cũng có trường hợp nhiều tài sản mà giá trị tài sản bị thiệt hại lại khác nhau có tài sản giá trị thiệt hại ít hơn 2.000.000 đồng nhưng có tài sản lại có giá trị hơn 2.000.000 đồng. Theo chúng tôi nếu tổng cộng giá trị thiệt hại mà số thiệt hại do tài sản bị huỷ hoại hay thiệt hại do tài sản bị hư hỏng loại nào nhiều hơn thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh mà giá trị tài sản bị thiệt hại nhiều hơn.

Ví dụ 1: Một người đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại xác định chung là 2.000.000 đồng, nhưng phần tài sản bị huỷ hoại là 1.600.000 đồng và phần tài sản bị hư hỏng là 400.000 đồng. Trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội huỷ hoại tài sản của người khác với thiệt hại xác định là 1.600.000 đồng.

Ví dụ 2: Một người đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại xác định chung là 2.000.000 đồng, nhưng phần tài sản bị huỷ hoại là 150.000 đồng và phần tài sản bị hư hỏng là 1.850.000 đồng. Trường hợp này người phạm tội phạm chịu trách nhiệm hình sự về tôin cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác với mức thiệt hại xác định là 1.850.000 đồng.

Khách thể

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của người khác (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Tuy nhiên cần lưu ý nếu người phạm tội có mục đích, động cơ chống lại chính quyền nhân dân thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (quy định tài điều 114).

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

hủy hoại tài sản
hủy hoại tài sản

Về hình phạt

Mức phạt của tội này được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:

a) Khung một (khoản 1).

Có mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cảnh cáo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

b) Khung hai (khoản 2).

Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

c) Khung ba (khoản 3).

Có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

d) Khung bốn (khoản 4).

Có mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 01 năm đến 05 năm.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 

Theo đó, Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bao gồm:

– Phạm tội có tổ chức;

– Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

– Phạm tội có tính chất côn đồ;

– Phạm tội vì động cơ đê hèn;

– Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

– Phạm tội 02 lần trở lên;

– Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

– Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;

– Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

– Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;

– Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

– Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

– Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

Lưu ý: các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Những điểm mới trong quy định loại hình phạt chính và mức hình phạt điều 178 bộ luật hình sự về hủy hoại tài sản

Khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999 chỉ quy định 2 loại hình phạt chính là “cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015, ngoài hai loại hình phạt trên, đã bổ sung thêm hình phạt tiền đối với loại tội phạm này “từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng”. 

Như vậy, trong khung hình phạt áp dụng với loại tội phạm ít nghiêm trọng xâm phạm sở hữu thì hình phạt tiền là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này cũng như khách thể xâm hại của nó.

Nếu như khoản 2 điều 178 BLHS năm 2015 không có quy định khác về hình phạt so với quy định tại khoản 2 Điều 143 BLHS năm 1999 thì tại khoản 3, khoản 4 Điều 178 BLHS năm 2015 lại có những thay đổi đáng kể.

Khoản 3 Điều luật mới quy định mức hình phạt “từ 5 năm đến 10 năm” trong khi điều luật cũ quy định mức hình phạt cao hơn: “từ 7 năm đến 15 năm”; Khoản 4 Điều 178 BLHS 2015 bỏ hình phạt “tù chung thân”, quy định hình phạt tù tối đa 20 năm trong khi luật cũ quy định mức hình phạt cao nhất đối với loại tội phạm này là tù chung thân.

Trên đây là một số nội dung về hủy hoại tài sảnn, nếu có bất kỳ thắc mắc gì về vấn đề này, quý khách có thể liên hệ với Luật Trần và Liên Danh để được hỗ trợ nhanh nhất.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0969 078 234
Tư Vấn Online
Gọi: 0969 078 234