Công ty kiểm toán

công ty kiểm toán

Kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản làm nên thương hiệu công ty kiểm toán Luật Trần và Liên danh và là một trong những thế mạnh của chúng tôi. Hoạt động này đã có sự phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn, Luật Trần và Liên danh đã có gần 500 chuyên gia với kinh nghiệm chuyên sâu về tài chính, kế toán, kiểm toán, tín dụng, thuế… Hàng năm, đội ngũ này đã thực hiện kiểm toán rất nhiều hợp đồng kiểm toán Báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp, các dự án tài trợ, vay vốn của các tổ chức quốc tế. Trong đó có nhiều doanh nghiệp Nhà nước hầu hết là các các Tập đoàn kinh tế lớn, các Tổng Công ty; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các Ngân hàng thương mại, các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp khác trong phạm vi cả nước.

Kiểm toán là gì?

Kiểm toán (KT) là hoạt động kiểm tra và xác minh tính đúng đắn, trung thực của một báo cáo tài chính nào đó nhằm cung cấp các thông tin chính xác nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đơn vị hay tổ chức đó.

Có thể hiểu đơn giản, kiểm toán là một quá trình thu thập, đánh giá các chứng từ, bằng chứng liên quan đến các thông tin tài chính đã được cung cấp để đưa ra những đánh giá, báo cáo về sự phù hợp của thông tin đó với các hạng mục được thiết lập.

Phân loại kiểm toán

Phân loại Kiểm toán theo mục đích của kiểm toán

Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là loại KT nhằm xem xét doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức được KT có tuân thủ các quy định mà các cơ quan chức năng của nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền cấp trên đã đề ra.

Kiểm toán hoạt động

Đây là loại KT nhằm đánh giá, xem xét các mặt về kinh tế, tính hiệu quả, hiệu lực của hoạt động được thực hiện KT, cụ thể:

+ Tính kinh tế: Xem xét tính kinh tế dựa trên việc để đạt mục tiêu đã đề ra; giúp doanh nghiệp, đơn vị hay tổ chức tiết kiệm tốt các nguồn lực

+ Tính hiệu quả: Kết quả đạt được tốt nhất với lượng nguồn lực nhất định

+ Tính hiệu lực: Xem xét khả năng về mức độ hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định của doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức thực hiện KT

Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán báo cáo tài chính là loại KT nhằm kiểm tra, đánh giá và xem xét về tính trung thực của các báo cáo tài chính được KT

Các BCTC được kiểm toán thường gặp bao gồm:

+ Báo cáo kết quả kinh doanh

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

+ Thuyết minh báo cáo tài chính

+ Bảng cân đối kế toán

+ Báo cáo quyết toán vốn

Nguyên tắc và quy trình dịch vụ kiểm toán độc lập

Luật Trần và Liên danh là Công ty Kiểm toán hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng như quyền lợi của chính bản thân mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp quy định. Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, chất lượng dịch vụ được cung cấp và uy tín của Công ty là những tiêu chuẩn hàng đầu mà mọi nhân viên của Vietland luôn luôn thực hiện.

Quy trình Dịch vụ Kiểm toán độc lập của Công ty được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ những Chuẩn mực, Quy chế Kiểm toán độc lập và Chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam; đồng thời lựa chọn và vận dụng những Chuẩn mực, Thông lệ chung của Quốc tế trong lĩnh vực nghề nghiệp, trên cơ sở phù hợp với thực hiện hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế ở Việt Nam.

Công ty kiểm toán Luật Trần và Liên danh có thể hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào?

Luật Trần và Liên danh cung cấp các dịch vụ kiểm toán độc lập và qua đó tăng cường độ tin cậy của hoạt động báo cáo tài chính của các tổ chức khách hàng.

Các kiểm toán viên lành nghề và giàu kinh nghiệm của chúng tôi làm việc với các khách hàng và các bên có liên quan để hiểu rõ về môi trường kinh doanh luôn thay đổi.

Chúng tôi chủ trương giải quyết các vấn đề căn bản và gia tăng giá trị ngoài phạm vi báo cáo tài chính thông qua những hiểu biết sâu sắc về hoạt động kinh doanh mà chúng tôi mang đến cho mỗi dự án kiểm toán.

Chúng tôi áp dụng một phương pháp kiểm toán dựa trên phương pháp luận đã được chứng minh và củng cố bởi cam kết của Luật Trần và Liên danh  về tính liêm chính, tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp.

Chúng tôi trang bị cho các nhóm kiểm toán các công nghệ tiên tiến để tạo ra một quy trình làm việc được thiết kế bài bản và tập trung vào rủi ro;

Chúng tôi tập trung vào các rủi ro kinh doanh chủ yếu của khách hàng.

Chúng tôi hỗ trợ quy trình kiểm toán bằng các kinh nghiệm sâu rộng trong áp dụng và diễn giải các chuẩn mực kế toán.

Chúng tôi xác định các xu hướng, các vấn đề của ngành và những hiểu biết sâu sắc về ngành có thể ảnh hưởng đến tính chính xác và tính đầy đủ của báo cáo tài chính.

Chúng tôi có năng lực chuyên môn cao cấp, thực hành văn hóa lấy khách hàng làm trọng tâm và khả năng tiếp cận với một mạng lưới toàn cầu các kiểm toán viên được đánh giá cao.

Các nội dung tư vấn của chúng tôi luôn rõ ràng, súc tích và phù hợp.

Tổng hợp, kết luận và hình thành ý kiến kiểm toán

Đây là bước cuối cùng, cũng là lúc các Kiểm toán viên cần đưa ra kết luận kiểm toán, các kết luận này nằm trong báo cáo hoặc biên bản kiểm toán.

Để đưa ra được những ý kiến chính xác, kiểm toán viên phải tiến hành các công việc cụ thể như: Xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến, xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, xem xét tính liên tục trong hoạt động của đơn vị, thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc…

Cuối cùng, Kiểm toán viên tổng hợp kết quả, lập nên Báo cáo kiểm toán đồng thời có trách nhiệm giải quyết các sự kiện phát sinh sau khi lập Báo cáo kiểm toán. Tùy theo kết quả, các kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến: Ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.

Các chuẩn mực kiểm toán liên quan:

Báo cáo kiểm toán về BCTC (CM 700, 705, 706);

Thông tin so sánh – Dữ liệu tương ứng và BCTC so sánh (CM 710);

Các thông tin khác trong tài liệu có BCTC đã kiểm toán (CM 720)

Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính

Từ định nghĩa về Kiểm toán báo cáo tài chính, có thể thấy được đối tượng của Kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm:

Bảng cân đối kế toán;

Báo cáo kết quả kinh doanh;

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

Thuyết minh báo cáo tài chính;

Các báo cáo này phản ánh tình hình, kết quả tài chính, kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và những thông tin cần thiết khác để những người cần sử dụng sẽ phân tích, đánh giá đúng kết quả, tình hình kinh doanh doanh nghiệp.

Ngoài ra các đối tượng của Kiểm toán báo cáo tài chính còn cung cấp các thông tin của doanh nghiệp về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu bán hàng, giá vốn…cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

công ty kiểm toán
công ty kiểm toán

Nội dung kiểm toán báo cáo tài chính

Công việc kiểm toán Báo cáo tài chính năm kết thúc kỳ/năm của đơn vị tuân theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam, các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận ở Việt Nam.

Cuộc kiểm toán phải thực hiện được các nội dung sau:

Việc quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp;

Việc chấp hành các chế độ quản lý kinh tế tài chính – kế toán thống kê của Nhà nước.

Cuộc kiểm toán phải làm rõ được các vấn đề sau:

Các thông tin tài chính có được lập trên cơ sở các chế độ tài chính, kế toán hiện hành của Nhà nước Việt Nam hay không? Các chế độ này có được áp dụng một cách nhất quán và kịp thời không?

Các thông tin trên Báo cáo tài chính có phản ánh một cách trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán; về tình hình hoạt động của đơn vị trong niên độ kế toán.

Cuộc kiểm toán cũng đòi hỏi phải đưa ra các ý kiến nhận xét về hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán của đơn vị, bao gồm các nhận xét về:

Công tác ghi chép chứng từ kế toán, luân chuyển chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán và công tác quản lý, lưu trữ các chứng từ kế toán.

Phương pháp lập Báo cáo tài chính và các Báo cáo quản trị, các tài liệu kế toán có liên quan.

Công tác hạch toán kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.

Kết thúc cuộc kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ phải lập và phát hành cho doanh nghiệp khách hàng Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính kết thúc kỳ/năm.

Thư quản lý (nếu có): Khi kết thúc cuộc kiểm toán báo cáo tài chính kỳ/năm, công ty kiểm toán sẽ phát hành thư quản lý (nếu có) nhằm đề xuất cho đơn vị hoàn thiện hơn hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và khắc phục những điểm yếu mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán nhận thấy trong quá trình kiểm toán.

Mục tiêu của kiểm toán nội bộ

Thông qua các hoạt động kiểm tra, đánh giá và tư vấn, kiểm toán nội bộ đưa ra các đảm bảo mang tính độc lập, khách quan và các khuyến nghị về các nội dung sau đây:

Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đã được thiết lập và vận hành một cách phù hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các rủi ro của đơn vị.

Các quy trình quản trị và quy trình quản lý rủi ro của đơn vị đảm bảo tính hiệu quả và có hiệu suất cao.

Các mục tiêu hoạt động và các mục tiêu chiến lược, kế hoạch và nhiệm vụ công tác mà đơn vị đạt được.

Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ

Tính độc lập: Người làm công tác kiểm toán nội bộ không được đồng thời đảm nhận các công việc thuộc đối tượng của kiểm toán nội bộ. Đơn vị phải đảm bảo rằng kiểm toán nội bộ không chịu bất cứ sự can thiệp nào trong khi thực hiện nhiệm vụ báo cáo và đánh giá.

Tính khách quan: Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải đảm bảo khách quan, chính xác, trung thực, công bằng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.

Tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kiểm toán nội bộ.

Các yêu cầu nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ trong công ty kiểm toán

Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải có thái độ công bằng, khách quan, không định kiến. Người làm công tác kiểm toán nội bộ có quyền và nghĩa vụ báo cáo về các vấn đề có thể ảnh hưởng đến tính độc lập và khách quan của mình liên quan đến công việc kiểm toán nội bộ được giao.

Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải đảm bảo tính độc lập và khách quan. Trường hợp tính độc lập hoặc khách quan bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng, người làm công tác kiểm toán nội bộ phải báo cáo cho cấp quản lý trực tiếp hoặc phải báo cáo cho các đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định này hoặc người được ủy quyền của các đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định này.

Trong công tác kiểm toán nội bộ, đơn vị phải thực hiện quy định dưới đây nhằm đảm bảo tính độc lập và khách quan, ngăn ngừa sự thiếu công bằng, định kiến và xung đột lợi ích:

a) Người làm công tác kiểm toán nội bộ không thực hiện kiểm toán đối với quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình mà mình là người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đó;

b) Người làm công tác kiểm toán nội bộ không có những xung đột về quyền và lợi ích kinh tế với đơn vị, bộ phận được kiểm toán; người làm công tác kiểm toán nội bộ không được thực hiện kiểm toán đối với đơn vị, bộ phận mà người điều hành đơn vị, bộ phận đó là người có liên quan của mình;

c) Người làm công tác kiểm toán nội bộ không được tham gia kiểm toán các hoạt động, các bộ phận mà mình chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động hoặc quản lý bộ phận đó trong thời hạn 03 năm kể từ khi có quyết định không thực hiện hoạt động hoặc quản lý bộ phận đó;

d) Đơn vị phải có biện pháp kiểm tra nhằm đảm bảo tính độc lập và khách quan của công tác kiểm toán nội bộ ngay trong quá trình thực hiện kiểm toán tại đơn vị, bộ phận được kiểm toán và trong giai đoạn lập, gửi báo cáo kiểm toán;

đ) Phạm vi, chu kỳ và phương pháp kiểm toán, quy trình kiểm toán phải đảm bảo kết quả kiểm toán phản ánh đúng thực trạng các nội dung được kiểm toán;

e) Các ghi nhận kiểm toán trong báo cáo kiểm toán nội bộ phải được phân tích cẩn trọng và dựa trên cơ sở các dữ liệu, thông tin thu thập được để đảm bảo tính khách quan.

Trên đây là bài viết tư vấn về công ty kiểm toán của Luật Trần và Liên danh. Nếu có thắc mắc hãy gọi cho chúng tôi theo số Hotline: 0969 078 234 để được tư vấn miễn phí.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0969 078 234
Tư Vấn Online
Gọi: 0969 078 234