Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51

các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51

Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bộ luật hình sự không quy định khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về cơ bản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc là tình tiết được ghi nhận trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay các tình tiết khác do Tòa án xem xét phù hợp mà căn cứ vào đó Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Người phạm tội nếu có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của luật này sẽ được xem xét để chịu hình phạt nhẹ hơn trong các trường hợp thông thường.

Quy định chung về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về các “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, hiện nay trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, và Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP đều không có quy định cụ thể về khái niệm “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”.

Tuy nhiên, theo khái niệm được quy định trong Từ điển Tiếng Việt online thì “tình tiết” được hiểu là những sự việc nhỏ trong quá trình hay diễn biến của một sự vật, sự việc.

Trên cơ sở khái niệm này thì có thể hiểu, “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” là những sự việc nhỏ, những chi tiết nhỏ, những tình tiết nhỏ mà sự hiện diện của nó có ý nghĩa trong việc làm giảm mức độ nguy hiểm của xã hội, thể hiện thái độ, khả năng cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của người phạm tội, là cơ sở để giảm nhẹ hình phạt (trách nhiệm hình sự) của người phạm tội so với mức hình phạt mà họ phải chịu theo quy định của pháp luật nếu không có tình tiết đó.

Nếu một tình tiết xuất hiện trong sự việc hình sự, nhưng mang ý nghĩa định tội, định khung tội danh và không có giá trị trong việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội thì không được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

– Về đặc điểm: Các tình tiết trách nhiệm hình sự được xác định là căn cứ để  Tòa án giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho một người khi quyết định hình phạt phải là những tình tiết được quy định cụ thể tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi điểm a, b Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 hoặc phải là tình tiết người phạm tội đầu thú hoặc tình tiết khác được Tòa án xác định là tình tiết giảm nhẹ trong bản án.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu đã đã được xác định là dấu hiệu để định tội hoặc định khung hình phạt thì sẽ không được coi là tình tiết giảm nhẹ là cơ sở để Tòa án quyết định hình phạt cho người phạm tội nữa.

Điều đó có nghĩa là không thể áp dụng hai lần một tình tiết giảm nhẹ đối với một tội phạm khi xác định về mức án phạt, khung hình phạt đối của hành vi phạm tội.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt, dù thể hiện dưới hình thức nào, trong trường hợp nào đều mang tính chất giúp mô tả hành vi cũng như mặt tâm lý, trạng thái của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội trong sự tương quan với thế giới khách quan, thể hiện mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng giảm đi so với tình huống phạm tội thông thường.

Ý nghĩa và căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51

Mỗi một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều thể hiện ý nghĩa và mức độ ảnh hưởng đối với việc quyết định hình phạt đối với từng hành vi phạm tội là khác nhau.

Mặc dù pháp luật không quy định với mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ được giảm bao nhiêu năm tù, hay có được hưởng phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hay không…

Tuy nhiên, có thể thấy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ, cơ sở để dựa vào đó Tòa án quyết định hình phạt cụ thể cho từng tội phạm phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, quy định về khung hình phạt của tội phạm, và nguyên tắc nhân đạo trong việc xác định hình phạt.

Đồng thời, căn cứ theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự 2015 và quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì có thể thấy, việc có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là điều cần thiết bởi:

 + Nếu một người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bởi điểm a, b Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì người phạm tội có thể được Tòa án quyết định áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà họ phạm vào, tuy nhiên, mức hình phạt này phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.

+ Ngoài ra, việc người phạm tội có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên thì đây cũng được xác định là một trong những điều kiện bắt buộc để người phạm tội bị kết án phạt tù được xem xét được hưởng án treo theo Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP.

Trên cơ sở phân tích nêu trên, cho dù tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được thể hiện dưới hình thức như thế nào, và mức độ ảnh hưởng đối với từng vụ án hình sự được xác định ra sao thì đây đều là những tình tiết có lợi cho người phạm tội, là cơ sở để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”.

Đây là những tình tiết không được liệt kê cụ thể trong Bộ luật Hình sự nhưng trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong những trường hợp cụ thể.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo có thể được hưởng khi phạm tội tại Điều 134 tội cố ý gây thương tích

Điều 51 Bộ luật hình sự có quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo đó, khi bị cáo có một trong các tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 thì Hội đồng xét xử có thể xem xét cho giảm nhẹ trách nhiệm. Cụ thể:

Các tình tiết các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;      

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự về việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thì:

Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Vì vậy, bị cáo có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 hoặc trong trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo còn có thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Dịch vụ tư vấn các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 của Luật Trần và Liên Danh

Tư vấn qua tổng đài:

Trong tất cả các hình thức tư vấn pháp luật hiện nay, phương pháp qua tổng đài được lựa chọn nhiều hơn cả. Bởi đây là hình thức tư vấn nhanh chóng, tiết kiệm, không giới hạn khoảng cách địa lý và thời gian. Các tư vấn viên của Luật Trần và Liên Danh làm việc 24/7 luôn sẵn sàng giải đáp bất kỳ thông tin nào của bạn.

Cách kết nối tổng đài:

Để được các Luật sư và chuyên viên pháp lý tư vấn về chế độ thai sản, khách hàng sẽ thực hiện các bước sau:

Bước 1: Khách hàng sử dụng điện thoại cố định hoặc điện thoại di động gọi tới số Tổng đài

Bước 2: Sau khi kết nối tới tổng đài tư vấn, khách hàng sẽ nghe lời chào từ Tổng đài và làm theo hướng dẫn của lời chào

Bước 3: Khách hàng kết nối trực tiếp tới tư vấn viên và đặt câu hỏi hoặc đề nghị được giải đáp thắc mắc liên quan đến bảo hiểm xã hội;

Bước 4: Khách hàng sẽ được tư vấn viên của công ty tư vấn, hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc liên quan

Bước 5: Kết thúc nội dung tư vấn, khách hàng lưu ý hãy lưu lại số tổng đài vào danh bạ điện thoại để thuận tiện cho các lần tư vấn tiếp theo (nếu có)

các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51
các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51

Thời gian làm việc của tổng đài Luật Trần và Liên Danh:

Thời gian làm việc của Tổng đài Luật Trần và Liên Danh như sau:

Ngày làm việc: Từ thứ 2 đến hết thứ 7 hàng tuần

Thời gian làm việc: Từ 8h sáng đến 12h trưa và từ 01h chiều đến 9h tối

Lưu ý: Chúng tôi sẽ nghỉ vào các ngày chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của Bộ luật lao động và các quy định hiện hành.

Hướng dẫn tư vấn luật tổng đài:

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp luật bạn vui lòng Gọi qua Hotline của chúng tôi để nghe hướng dẫn và lựa chọn lĩnh vực cần tư vấn, đặt câu hỏi và trao đổi trực tiếp với luật sư trên tất cả các lĩnh vực.

Trong một số trường hợp các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp luật của chúng tôi không thể giải đáp chi tiết qua điện thoại, Luật Trần và Liên Danh sẽ thu thập thông tin và trả lời tư vấn bằng văn bản (qua Email, bưu điện…) hoặc hẹn gặp bạn để tư vấn trực tiếp.

Tư vấn qua email:

Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật qua email trả phí của Luật Trần và Liên Danh bạn sẽ được:

Tư vấn ngay lập tức: Ngay sau khi gửi câu hỏi, thanh toán phí tư vấn các Luật sư sẽ tiếp nhận và xử lý yêu cầu tư vấn của bạn ngay lập tức!

Tư vấn chính xác, đầy đủ căn cứ pháp lý: Yêu cầu tư vấn của bạn sẽ được các Luật sư tư vấn chính xác dựa trên các quy định của pháp luật. Nội dung trả lời bao gồm cả trích dẫn quy định của pháp luật chính xác cho từng trường hợp.

Hỗ trợ giải quyết toàn bộ, trọn vẹn vấn đề: Cam kết hỗ trợ giải quyết tận gốc vấn đề, tư vấn rõ ràng – rành mạch để người dùng có thể sử dụng kết quả tư vấn để giải quyết trường hợp thực tế đang vướng phải.

Do Luật sư trực tiếp trả lời: Câu hỏi của bạn sẽ do Luật sư trả lời! Chúng tôi đảm bảo đó là Luật sư đúng chuyên môn, nhiều kinh nghiệm, có khả năng tư vấn và giải quyết trường hợp của bạn!

Phí tư vấn là: 300.000 VNĐ/Email tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc mà bạn đưa ra cho chúng tôi.

Nếu cần những căn cứ pháp lý rõ ràng, tư vấn bằng văn bản, có thể đọc đi đọc lại để hiểu kỹ và sử dụng làm tài liệu để giải quyết vụ việc thì tư vấn pháp luật qua email là một dịch vụ tuyệt vời dành cho bạn!

Nhưng nếu bạn đang cần được tư vấn ngay lập tức, trao đổi và lắng nghe ý kiến tư vấn trực tiếp từ các Luật sư thì dịch vụ tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại là sự lựa chọn phù hợp dành cho bạn!

Tư vấn luật trực tiếp tại văn phòng:

Nếu bạn muốn gặp trực tiếp Luật sư, trao đổi trực tiếp, xin ý kiến tư vấn trực tiếp với Luật sư thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tiếp tại văn phòng của chúng tôi!

Chúng tôi sẽ cử Luật sư – Chuyên gia – Chuyên viên tư vấn phù hợp với chuyên môn bạn đang cần tư vấn hỗ trợ bạn!

Đây là hình thức dịch vụ tư vấn pháp luật có thu phí dịch vụ! Phí dịch vụ sẽ được tính là: 300.000 VNĐ/giờ tư vấn tại văn phòng của Luật Trần và Liên Danh trong giờ hành chính.

Số điện thoại đặt lịch hẹn tư vấn:

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn để phục vụ bạn theo giờ bạn yêu cầu!

Tư vấn luật tại địa chỉ yêu cầu:

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn pháp luật trực tiếp, gặp gỡ trao đổi và xin ý kiến trực tiếp với Luật sư nhưng công việc lại quá bận, ngại di chuyển thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ khách hàng yêu cầu của chúng tôi.

Đây là dịch vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý có thu phí Luật sư. Phí Luật sư sẽ được báo chi tiết cụ thể khi chúng tôi nhận được thông tin địa chỉ nơi tư vấn. Hiện tại Luật Trần và Liên Danh mới chỉ có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại nơi khách hàng yêu cầu.

Luật Trần và Liên Danh sẽ cử nhân viên qua trực tiếp địa chỉ khách hàng yêu cầu để phục vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý. Để sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ theo yêu cầu, bạn có thể đặt lịch hẹn với chúng tôi theo các cách thức sau:

Gọi đến số đặt lịch hẹn tư vấn của chúng tôi: (Lưu ý: Chúng tôi không tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại này. Số điện thoại này chỉ kết nối tới lễ tân để tiếp nhận lịch hẹn và yêu cầu dịch vụ).

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn xuống trực tiếp theo địa chỉ bạn cung cấp để tư vấn – hỗ trợ!

Luật Trần và Liên Danh cam kết bảo mật thông tin của khách hàng:

Mọi thông tin bạn cung cấp và trao đổi qua điện thoại cho Luật Trần và Liên Danh sẽ được bảo mật tuyệt đối, chúng tôi có các biện pháp kỹ thuật và an ninh để ngăn chặn truy cập trái phép nhằm tiêu hủy hoặc gây thiệt hại đến thông tin của quý khách hàng.

Tuân thủ pháp luật, tôn trọng khách hàng, nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc về đạo đức khi hành nghề Luật sư. Giám sát chất lượng cuộc gọi, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp tư vấn không chính xác, thái độ tư vấn không tốt.

Với năng lực pháp lý của mình, Luật Trần và Liên Danh cam kết thực hiện việc tư vấn đúng pháp luật và bảo vệ cao nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Chúng tôi tư vấn dựa trên các quy định của pháp luật và trên tinh thần thượng tôn pháp luật.

Chúng tôi liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển con người, nâng cấp hệ thống để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn!

Nếu các bạn đang cần tìm một công ty Tư Vấn Luật UY TÍN, NHANH CHÓNG, CHUYÊN NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ, vui lòng liên hệ với Luật Trần và Liên Danh!

Như vậy, trên đây là toàn bộ thông tin và nội dung tư vấn pháp luật của Luật Trần và Liên Danh liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51. Mọi thắc mắc xin liên hệ qua Hotline:Công ty luật uy tín để được giải đáp nhanh chóng, chu đáo và miễn phí!

Đề xuất cho bạn

Thông tin tác giả

Hotline: 034 663 1139
Tư Vấn Online
Gọi: 034 663 1139