Tự thú

tự thú

Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiếp nhận người tự thú phải kịp thời thực hiện các yêu cầu và các hoạt động theo quy định của pháp luật và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đồng thời đảm bảo những biện pháp cần thiết để giải quyết vụ án. Sau đây là một số quy định của pháp luật và một số vấn đề xung quanh “tự thú” như sau:

Khái niệm tự thú

Tại Điểm h Khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về khái niệm tự thú như sau:

Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.

Như vậy, tự thú là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.

Phân biệt đầu thú và tự thú

Điểm giống nhau giữa đầu thú và tự thú

Sự giống nhau giữa đầu thú và tự thú đó là những hành động của người có những hành vi phạm tội và người sẽ có hành vi phạm tội đó  tự mình đến cơ quan có thẩm quyền khai báo hoặc có thể là khai báo tại cơ quan chức năng để được xem xét có những tình tiết giảm nhẹ và sự khoan hồng của pháp luật, xử lý theo quy định của pháp luật.

Điểm khác nhau giữa đầu tú và tự thú

Tiêu chí

Tự thú

Đầu thú

Căn cứ pháp lý

Tự thú được quy định tại Điểm h, khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 29, Điều 51  Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Đầu thú được quy định tại Điểm i, khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Khái niệm

Tự thú chính là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. Đầu thú chính là sau khi bị phát hiện, người phạm tội đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
Đặc điểm  Tự thú là hành vi phạm tội chưa bị ai phát giác hoặc đã bị phát giác nhưng chưa xác định được ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.

Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tự thú thì sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Đầu thú không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên trong quá trình điều tra, xét xử việc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ tùy thuộc vào quyết định của Tòa án và tùy thuộc vào thái độ sau đó của người đầu thú (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội…). Việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải được ghi rõ trong bản án.
Việc miễn trách nhiệm hình sự Đối với người phạm tội ra tự thú có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu:

Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận

Người phạm tội ra đầu thú thì không được miễn trách nhiệm hình sự
tự thú
tự thú

Tự thú có được hưởng khoan hồng không 

Khoan hồng được hiểu đó là đối xử độ lượng đối với những người có lỗi và đối với trường hợp này thì người phạm tội nhận sự khoan hồng từ pháp luật và đầu thú sẽ không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên trong quá trình điều tra, xét xử việc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ tùy thuộc vào quyết định của Tòa án và tùy thuộc vào thái độ sau đó của người đầu thú (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội…). Việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải được ghi rõ trong bản án.

Nếu người phạm tội tự thú không được miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ thì khi áp dụng cần chú ý:

– Trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, thì tự thú tội nào được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội đó. Ví dụ: Vũ Thị C bị bắt quả tang về hành vi vận chuyển 100 gam Heroin; trong quá trình điều tra, Vũ Thị C tự khai trước đó 3 tháng vào trước tết nguyên đán C còn phạm tội buôn bán hàng cấm là Pháo nổ với số lượng rất lớn; Cơ quan điều tra xác minh thấy lời khai tự thú của Vũ Thị C là chính xác. Tuy nhiên, việc tự thú của Vũ Thị C không góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, không hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm, vì số pháo nổ mà Vũ Thị C buôn bán đã tiêu thụ hết trong dịp tết nguyên đán, C cũng không khai được số pháo đó bán cho ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra đã khởi tố bổ sung đối với Vũ Thị C về tội buôn bán hàng cấm theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự. Khi xét xử vụ án đối với Vũ Thị C Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vụ Thị C về cả 2 tội “vận chuyển trái phép chất ma tuý” và “buôn bán hàng cấm”. Lẽ ra, Toà án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với tội “buôn bán hàng cấm” còn tội đối với tội “vận chuyển trái phép chất ma tuý” bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú”.

– Trường hợp bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm cùng một tội, thì tự thú hành vi phạm tội nào (nếu không được miến trách nhiệm hình sự về hành vi đó) thì cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm mà bị cáo thực hiện nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp tự thú tất cả hành vi phạm tội. Ví dụ: Trịnh Đắc D bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi trộm cắp của một hành khách trên xe buyt với số tiền 10 triệu đồng; trong quá trình điều tra, D còn khai đã 4 lần trộm cắp tài sản của 4 người với tổng số tiền là 50 triệu đồng nhưng không biết tên và địa chỉ của 4 người bị hại, vì D chuyên móc túi trên xe buyt, số tiền trộm cắp được D đã ăn tiêu hết. Trịnh Đắc D bị Viện kiểm sát truy tố theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự với các tình tiết: “có tính chất chuyên nghiệp” (điểm b) và “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng” (điểm e). Do Trịnh Đắc D đã tự thú 4 lần trộm cắp trước khi bị bắt quả tang và xét thấy không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự của hành vi trộm cắp tài sản 4 lần trước đó nên khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Đắc D.

– Cần phân biệt người phạm tội tự thú với “người phạm tội thành khẩn khai báo”. Người phạm tội thành khẩn khai báo là trường hợp chỉ thực hiện một hoặc một số hành vi mà tất cả các hành vi đó chỉ cấu thành một tội. Sau khi bị phát hiện, người phạm tội đã khai báo đầy đủ, trung thực tất cả các tình tiết của vụ án, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nhanh chóng và đúng pháp luật. Nếu người phạm tội sau khi tự thú mà không khai báo thành khẩn thì vẫn có thể được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp sau khi tự thú người phạm tội khai báo thành khẩn, mà không được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo”, vì người phạm tội thành khẩn khai báo sau khi tự thú là một trong những điều kiện đến xem xét có thể miễn trách nhiệm hình sự cho họ.    

Cơ quan có thẩm quyền:

– Sau khi tiếp nhận người phạm tội  đầu thú, cơ quan, tổ chức phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.

– Cơ quan điều tra tiếp nhận người đầu thú phải kiểm tra xem tội phạm đầu thú có thuộc thẩm quyền điều tra của mình hay không. Nếu thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, việc thông báo phải bằng văn bản. Trong trường hợp xác định tội phạm tự thú, đầu thú không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền đề tiếp nhận, giải quyết.

– Đầu thú là trường hợp người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình. Tự thú và đầu thú có điểm khác nhau cơ bản về thời điểm khai báo của người phạm tội (xem tại điểm h, điểm i khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự).

– Khi người phạm tội đến đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản về việc tự thú, đầu thú. Trong biên bản phải ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú.

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 thì người phạm tội có hành vi đầu thú sẽ được hưởng khoan hồng qua nguyên tắc xử lý tội phạm.  Khi quyết định hình phạt, tòa án căn cứ quy định của bộ luật này để cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Việc người phạm tội được hưởng khoan hồng từ  chính sách Nhà nước thể hiện được sự nhân đạo, văn minh trong tố tụng hình sự.

+ Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

– Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

– Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

– Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

– Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Kết luận: Theo như trên có thể thấy, pháp luật đề ra những quy định để có thể có chính sách khoan hồng cho người phạm tội để họ sửa chữa lỗi lầm của mình. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, đầu thú và thực hiện các thủ tục theo quy định mà pháp luật đề ra.

Ý nghĩa của việc người phạm tội tự thú

– Quy định trường hợp tự thú trong pháp luật là thể hiện chính sách khoan hồng nhất quán của Nhà nước ta, thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc ta đối với những người lầm lỗi mà chịu ăn năn hối cải. Thành tâm tự thú là một hành vi tích cực và là biểu hiện của sự ăn năn muốn hối cải của người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm pháp.

– Luật hình sự quy định việc người phạm tội tự thú là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy định về tự thú còn là quy định mang tính phòng ngừa tích cực. Hành vi tự thú không chỉ giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật sớm khám phá ra tội phạm và ngăn chặn được những hành vi tiếp tục thực hiện tội phạm mà còn tác động tích cực đến những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội, làm cho các đối tượng này phải hoang mang, dao động mà tự kiềm chế các hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình.

– Tự thú còn có ý nghĩa tích cực ở chỗ, làm giảm bớt những chi phí cần thiết cho việc điều tra, truy bắt đối tượng phạm tội; rút ngắn thời hạn thực hiện các hành vi tố tụng. Vì những ý nghĩa đó, pháp luật tố tụng hình sự của nước ta, luôn khuyến khích tự thú. Cũng chính vì vậy mà luật cũng quy định những thủ tục tố tụng và các điều kiện pháp lý khác có lợi cho người tự thú.

Trên đây là một số tư vấn của Luật Trần và Liên Danh về vấn đề tự thú, nếu có thắc mắc gì về vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ nhanh nhất.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0969 078 234
Tư Vấn Online
Gọi: 0969 078 234